Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 12 : 79
Năm 2019 : 3.140
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

văn bản phổ biến luật quý I năm 2018

Đề cương giới thiệu Luật quản lý tài sản công
UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN
HỘI ĐỒNG PHPBGDPL
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU
LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG NĂM 2017
(Tài liệu dành cho Báo cáo viên pháp luật
các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên)

 
 
 

Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 21/6/2017 với 10 chương, 134 Điều; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
1. Khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008
Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 là văn bản pháp luật cao nhất lần đầu tiên được ban hành ở Việt Nam về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Qua quá trình triển khai thực hiện, công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng: quy mô tài sản phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, y tế, giáo dục, văn hóa - thể thao và các hoạt động sự nghiệp khác đã tăng lên đáng kể [1]; hiệu quả sử dụng được nâng lên và dần trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội; tình trạng lãng phí, thất thoát trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước dần được khắc phục. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thời gian vừa qua cũng đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế chủ yếu sau:
Một là, cơ chế quản lý tài sản nhà nước còn phân tán, được điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau, chưa có luật chung để quy định những nguyên tắc thống nhất trong quản lý, sử dụng, khai thác tài sản. Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước 2008 mới điều chỉnh đối với một bộ phận tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; chưa điều chỉnh đối với các loại tài sản nhà nước khác như: tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đất đai, khoáng sản, rừng, nguồn lợi ở vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh, tên miền Internet và các tài nguyên khác. Do đó, nhiều nội dung thuộc chế độ quản lý, sử dụng tài sản, nhất là việc hạch toán tài sản, khai thác tài sản với vị trí là nguồn lực tài chính chưa có luật điều chỉnh để thực hiện đã làm hạn chế hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Hai là, quy trình đầu tư, mua sắm, xử lý tài sản nhà nước bị phân tán do nhiều cơ quan, đơn vị cùng làm, tính chuyên nghiệp chưa cao, còn nặng về hành chính, bao cấp; vai trò điều tiết của các cơ quan quản lý tài sản công hạn chế nên còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu tài sản, việc sử dụng tài sản sai công năng, sai mục đích gây lãng phí, thất thoát vẫn diễn ra; chưa tách bạch giữa nhiệm vụ quản lý về tài sản nhà nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Ba là, việc quản lý, sử dụng một số loại tài sản nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, chậm đổi mới, chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tài chính, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới về khai thác nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng; khả năng thu hút các nguồn lực của xã hội cùng Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác tài sản còn hạn chế, đặc biệt là tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản kết cấu hạ tầng.
Bốn là, các cơ quan quản lý chưa nắm được tổng thể về tài sản nhà nước, công tác hạch toán chưa đầy đủ, thống nhất, chưa gắn quản lý về giá trị với quản lý về hiện vật.
Nguyên nhân là do tài sản nhà nước có phạm vi rất rộng, công tác quản lý bị buông lỏng trong thời gian dài, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa theo kịp với yêu cầu quản lý; ý thức trách nhiệm của một số cấp, ngành, cơ quan, đơn vị trong quản lý, sử dụng tài sản chưa cao; công nghệ quản lý còn hạn chế; tổ chức bộ máy và nhân lực quản lý còn thiếu, chưa đồng bộ; chế tài xử lý vi phạm còn thiếu và thực hiện chưa nghiêm.
2. Thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013, tạo sự đồng bộ  trong hệ thống pháp luật
Tài sản công có giá trị rất lớn[2] và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của các quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân”.
Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân quy định tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định hình thức sở hữu nhà nước về tài sản. Đây là cơ sở để Nhà nước ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Nếu như giai đoạn trước năm 1998, việc quản lý tài sản nhà nước được điều chỉnh chung trong pháp luật về quản lý tài chính - ngân sách, Nhà nước ban hành một số văn bản liên quan đến tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản, chế độ sử dụng xe ô tô công, quản lý nhà, đất trong quá trình cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh... thì từ năm 1998 (năm Chính phủ ban hành Nghị định số 14/1998/NĐ-CP về quản lý tài sản nhà nước) đến nay, hệ thống pháp luật về tài sản nhà nước đã từng bước được hoàn thiện. Sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan trung ương có liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho công tác quản lý tài sản nhà nước.
Năm 2013, Quốc hội thông qua Hiến pháp (sửa đổi). Tại Điều 53 Hiến pháp quy định: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý". Đây là lần đầu tiên chế định về "tài sản công" được hiến định. Tiếp đó, tại Điều 197 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cụ chế hóa quy định về tài sản công theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013. Phạm vi và nội hàm của khái niệm về tài sản công tại các văn bản này tương đồng và thay thế cho khái niệm tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005.
Triển khai thi hành Hiến pháp, thời gian qua, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều luật liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, quyền sở hữu tài sản, ngân sách nhà nước, kiểm toán nhà nước, đầu tư công, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đất đai...[3] Các luật, bộ luật này có tác động trực tiếp tới việc quản lý, sử dụng tài sản công theo Hiến pháp năm 2013.
Từ các yêu cầu trên, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quản lý, sử dụng tài sản công, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong đầu tư xây dựng, mua sắm, sử dụng, xử lý tài sản; đồng thời, cụ thể hóa phạm vi tài sản công theo Điều 53 Hiến pháp, quy định chế độ quản lý, sử dụng và xác định vai trò của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đối với tài sản công, tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, việc ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công để thay thế cho Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện hành là cần thiết.
II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT      
1. Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, huy động, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công để phát triển kinh tế - xã hội[4]. Thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các loại tài sản công đều được quản lý chặt chẽ, hiệu quả bằng pháp luật; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các Luật có liên quan như: Luật về tổ chức bộ máy nhà nước, Luật ngân sách nhà nước, Luật kiểm toán nhà nước…
2. Xây dựng những nguyên tắc chung nhất trong quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng, nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công; kế thừa những nội dung, quy định hiện hành còn phù hợp, đã được thực hiện ổn định, có hiệu quả trong thực tế; sửa đổi những quy định không còn phù hợp với thực tế và yêu cầu quản lý trong tình hình mới; phân định tài sản công phục vụ công tác quản lý, cung cấp dịch vụ công, tài sản công phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, tài sản công phục vụ sản xuất, kinh doanh; đổi mới phương thức quản lý, sử dụng tài sản công phù hợp với từng loại tài sản theo hướng nắm chắc, hạch toán, thống kê đầy đủ tài sản công về giá trị và hiện vật, coi tài sản công là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu ngân sách nhà nước. Nhằm bảo đảm nguyên tắc tất cả các loại tài sản công đều được điều chỉnh bởi pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tránh mâu thuẫn, chồng chéo với các luật chuyên ngành, tạo cơ sở để nắm được tổng thể nguồn lực từ tài sản công, Luật được xây dựng theo các nguyên tắc sau:
a) Quy định những nguyên tắc chung nhất trong quản lý, sử dụng tất cả các loại tài sản công để các luật điều chỉnh về tài sản công đều phải tuân thủ;
b) Quy định toàn diện chế độ quản lý, sử dụng đối với những loại tài sản đang được điều chỉnh tại Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện hành và những loại tài sản đang được quy định chế độ quản lý, sử dụng tại các văn bản dưới luật (như: tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về Nhà nước);
c) Quy định chế độ khai thác và quản lý nguồn lực tài chính đối với các loại tài sản công khác (như: tài sản kết cấu hạ tầng, đất đai, tài nguyên).
Riêng đối với tài sản công thể hiện dưới hình thái tiền tệ thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, quỹ ngoại tệ thực hiện quản lý theo quy định của pháp luật có liên quan, không thuộc phạm vi tài sản công quy định tại Luật này.
Việc quy định như trên nhằm bảo đảm nguyên tắc tất cả các loại tài sản công đều được điều chỉnh bởi pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tránh mâu thuẫn, chồng chéo với các luật chuyên ngành, tạo cơ sở để nắm được tổng thể nguồn lực từ tài sản công.
3. Tạo lập cơ sở pháp lý để quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm tài sản công; ngăn chặn, đẩy lùi thất thoát, lãng phí, tham nhũng và những hành vi khác xâm phạm tài sản công; khai thác tài sản công hợp lý, hiệu quả gắn với việc huy động các nguồn lực của xã hội cùng Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác tài sản công để tạo lập nguồn lực tài chính đóng góp có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu ngân sách nhà nước; từng bước chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài sản công, phát triển dịch vụ về tài sản công theo cơ chế thị trường trên cơ sở đảm bảo quyền sở hữu toàn dân về tài sản.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công gồm 10 Chương với 134 Điều, cụ thể:
1. Chương I. Quy định chung: gồm 11 điều (từ Điều 1 đến Điều 11) quy định các nội dung về phạm vi điều chỉnh và những vấn đề chung trong quản lý, sử dụng tài sản công, bao gồm: Tài sản công và phân loại tài sản công; chính sách quản lý, sử dụng tài sản công; nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản công; khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công; công khai tài sản công và giám sát của cộng đồng đối với tài sản công; các hành vi bị cấm và xử lý vi phạm pháp luật về tài sản công.
2. Chương II. Nội dung quản lý nhà nước về tài sản công và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước đối với tài sản công: gồm 08 điều (từ Điều 12 đến Điều 19) quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với tài sản công; nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ, cơ quan trung ương, Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp đối với tài sản công; thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công.
3. Chương III. Quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị: gồm 54 Điều (từ Điều 20 đến Điều 73) được chia thành 7 mục quy định về quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại từng loại hình cơ quan, tổ chức, đơn vị[5], quy định về: nguồn hình thành tài sản công; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; hạch toán, báo cáo, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản; các hình thức xử lý tài sản (thu hồi, điều chuyển, bán, sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao, thanh lý, tiêu hủy); sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.
4. Chương IV. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng: gồm 23 điều (từ Điều 74 đến Điều 96) được chia thành 5 mục quy định chung về quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng; hồ sơ, kế toán, báo cáo, bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng; khai thác, xử lý tài sản kết cấu hạ tầng; quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hình thức đối tác công - tư.
5. Chương V. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp: gồm 3 Điều (từ Điều 97 đến Điều 99) quy định việc quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp.
6. Chương VI. Chế độ quản lý, sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân: gồm 13 Điều (từ Điều 100 đến Điều 112) chia thành 02 mục gồm:
a) Mục 1. Quản lý, sử dụng tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước: quy định về các nội dung: hình thành tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước; sử dụng, hạch toán, báo cáo tài sản; hình thức xử lý, thẩm quyền quyết định xử lý tài sản; quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
b) Mục 2. Quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân: quy định về các nội dung: thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản; bảo quản tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; hình thức xử lý, thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý, trình tự xử lý tài sản.
7. Chương VII. Chế độ quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên: gồm 12 Điều (từ Điều 113 đến Điều 124) chia làm 2 Mục quy định nguyên tắc chung trong quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên; hình thức, phương thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên (với vị trí là một loại tài sản công quan trọng).
8. Chương VIII. Hệ thống thông tin về tài sản công và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công: gồm 5 Điều (từ Điều 125 đến Điều 129) quy định về hệ thống thông tin về tài sản công; trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin về tài sản công; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công; quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công và sử dụng thông tin về tài sản công.
9. Chương IX. Dịch vụ về tài sản công: gồm 3 Điều (từ Điều 130 đến Điều 132) quy định nội dung dịch vụ về tài sản công; tổ chức, cá nhân được cung cấp dịch vụ về tài sản công; sử dụng dịch vụ về tài sản công.
10. Chương X. Điều khoản thi hành: gồm 2 Điều (Điều 133 và Điều 134) quy định về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp.
IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG
1. Phạm vi điều chỉnh:
Với quan điểm Luật này là luật chung điều chỉnh việc quản lý, sử dụng tài sản công, phạm vi điều chỉnh của Luật được quy định như sau: Luật này quy định về quản lý nhà nước đối với tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng tài sản công; quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài sản công.
Riêng đối với tài sản công là tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật có liên quan”.
2. Nguyên tắc và chính sách của Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài sản công
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển, khai thác và bảo vệ tài sản công; thực hiện hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài sản công nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công; đảm bảo nguồn nhân lực và tài chính phục vụ quản lý, sử dụng tài sản công. Đồng thời, khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện đầu tư vốn, khoa học công nghệ phát triển tài sản công; nhận chuyển giao quyền đầu tư, khai thác hoặc thuê quyền khai thác tài sản công.
Trên cơ sở rà soát, kế thừa các nguyên tắc quy định tại Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và các luật có liên quan, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định 07 nhóm nguyên tắc để áp dụng thống nhất trong quản lý, sử dụng tài sản công. Trong đó, chú trọng tới việc giao quyền quản lý, quyền sử dụng hoặc các hình thức trao quyền khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác theo quy định nhằm xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng gắn với trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý, sử dụng tài sản công; quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng có hiệu quả tài sản công; tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, công năng, đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ; việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công phải tuân theo cơ chế thị trường để đảm bảo hiệu quả và tính minh bạch của việc khai thác.
3. Các hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công
Để bảo vệ tài sản công và thực hiện việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản đúng quy định của pháp luật; trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tế, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định 10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm gồm: (i) Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt, chiếm giữ và sử dụng trái phép tài sản công; (ii) Đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê, sử dụng tài sản công không đúng mục đích, chế độ, vượt tiêu chuẩn, định mức; (iii) Giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân vượt tiêu chuẩn, định mức hoặc giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân không có nhu cầu sử dụng; (iv) Sử dụng xe ô tô và tài sản công khác do tổ chức, cá nhân tặng cho không đúng mục đích, chế độ, vượt tiêu chuẩn, định mức; (v) Sử dụng hoặc không sử dụng tài sản công được giao gây lãng phí; sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết không phù hợp với mục đích sử dụng của tài sản, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao; sử dụng tài sản công để kinh doanh trái pháp luật; (vi) Xử lý tài sản công trái quy định của pháp luật; (vii) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công; (viii) Chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản công; (ix) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ trong quản lý, sử dụng tài sản công theo quy định của pháp luật; (x) Hành vi bị nghiêm cấm khác trong quản lý, sử dụng tài sản công theo quy định của pháp luật có liên quan.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại cho Nhà nước thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm giải trình và phải chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm.
4. Về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công
Để nâng cao tính pháp lý của văn bản và hiệu lực áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công trong thực tế, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định: (1) Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô, tài sản của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài; (2) Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với: tài sản đặc biệt tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân; nhà ở công vụ; máy móc, thiết bị và tài sản khác được sử dụng phổ biến tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị; (3) Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ; (4) Căn cứ quy định của cơ quan, người có thẩm quyền, Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý và các tài sản khác chưa có quy định về tiêu chuẩn, định mức của cơ quan, người có thẩm quyền; (5) Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư quyết định áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công tại đơn vị mình, trừ tiêu chuẩn, định mức diện tích làm việc, xe ô tô, máy móc, thiết bị của các chức danh quản lý.
Việc ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công phải đảm bảo các nguyên tắc: (i) đúng thẩm quyền; (ii) tuân thủ trình tự, thủ tục ban hành theo quy định của pháp luật; (iii) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, khả năng của ngân sách nhà nước, mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Đồng thời, để đảm bảo việc đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công được tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn, định mức, Điều 27 của Luật quy định về trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công. Theo đó, Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc tuân thủ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao; cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản công có trách nhiệm tự kiểm tra việc tuân thủ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công. Việc kiểm tra tuân thủ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công được thực hiện trong toàn bộ quy trình đầu tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê, sử dụng, xử lý tài sản công.
5. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước
Về cơ bản chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước được kế thừa các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, đưa vào một số quy định tại các nghị định và thông tư hướng dẫn đã được kiểm nghiệm và chứng minh sự phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, quy định bổ sung một số nội dung để phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng tài sản công gồm:
a) Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc theo hình thức đối tác công - tư.
b) Thuê quản lý vận hành tài sản công; theo đó, cơ quan nhà nước được giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ quan đơn vị được giao quản lý khu hành chính tập trung có thể tự thực hiện quản lý vận hành tài sản công được giao quản lý, sử dụng hoặc thuê đơn vị có chức năng thực hiện quản lý vận hành (điều khiển, duy trì hoạt động, bảo dưỡng thường xuyên tài sản công; cung cấp các dịch vụ bảo vệ, vệ sinh môi trường và các dịch vụ khác bảo đảm cho tài sản công hoạt động bình thường).
c) Trước khi quyết định giao, thu hồi đất thuộc trụ sở làm việc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Tài chính đối với trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước thuộc trung ương hoặc của Sở Tài chính đối với trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước thuộc địa phương về sự phù hợp của phương án giao, thu hồi với chức năng, nhiệm vụ, biên chế và tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công.
d) Cho phép khai thác đối với những loại tài sản công tại cơ quan nhà nước mà việc khai thác không làm ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước gồm: nhà ở công vụ, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu và tài sản công khác để khai thác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; việc quản lý, sử dụng số tiền thu được thực hiện theo quy định của pháp luật.
đ) Cơ quan nhà nước được sử dụng hội trường, phương tiện vận tải chưa sử dụng hết công suất cho cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội sử dụng chung theo đúng công năng của tài sản, bảo đảm an ninh, an toàn và được thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí trực tiếp liên quan đến vận hành tài sản trong thời gian sử dụng.
e) Ngoài các hình thức xử lý tài sản như quy định hiện hành gồm: thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý, tiêu hủy, Luật bổ sung 02 hình thức xử lý tài sản công gồm: (i) sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao; (ii) xử lý tài sản công trong trường hợp bị mất, bị hủy hoại. Trong đó, để bảo đảm tính công khai, minh bạch, Luật quy định việc bán tài sản công phải được thực hiện theo hình thức đấu giá, việc bán theo hình thức niêm yết giá công khai hoặc bán chỉ định chỉ được thực hiện trong trường hợp bán các loại tài sản công có giá trị nhỏ.
g) Số tiền thu được từ xử lý tài sản công được nộp vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước, sau khi trừ đi chi phí có liên quan đến xử lý tài sản, phần còn lại được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước. Trường hợp cơ quan nhà nước được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép xử lý tài sản công để mua sắm tài sản thay thế thì được ưu tiên bố trí trong dự toán chi ngân sách nhà nước. Trường hợp cơ quan nhà nước được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép xử lý tài sản công là trụ sở làm việc và có dự án đầu tư xây dựng, mua sắm, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc thì được ưu tiên bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công và ưu tiên bố trí dự toán chi ngân sách nhà nước.
6. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập
Về cơ bản chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập được kế thừa các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, đưa vào một số quy định tại các nghị định và thông tư hướng dẫn đã được kiểm nghiệm và chứng minh sự phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện; một số nội dung được dẫn chiếu áp dụng quy định đối với tài sản công tại cơ quan nhà nước gồm: đầu tư xây dựng cơ sở hoạt động sự nghiệp theo hình thức đối tác công tư, mua sắm, thuê tài sản, khoán kinh phí sử dụng tài sản công, quản lý vận hành, lập, quản lý hồ sơ, bảo dưỡng, sửa chữa, xử lý tài sản công. Đồng thời, quy định một số nội dung để phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng tài sản công gồm:
a) Đơn vị sự nghiệp công lập không được sử dụng tài sản công để thế chấp hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác trong các trường hợp: (i) Tài sản công do Nhà nước giao; (ii) Tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm từ ngân sách nhà nước; (iii) Quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất được sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết mà tiền thuê đất đã trả một lần cho cả thời gian thuê không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước sau khi được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương cho phép đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý.
b) Bỏ quy định về việc xác định lại giá trị tài sản để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp để giảm thủ tục hành chính và chi phí xác định lại giá trị tài sản. Tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập đều có quyền sử dụng tài sản công được giao, được đầu tư xây dựng, mua sắm để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao nhưng chưa sử dụng hết công suất, tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt để phục vụ hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết mà không do ngân sách nhà nước đầu tư vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết khi đáp ứng được 08 yêu cầu quy định tại Luật.
c) Không bố trí vốn đầu tư công, ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản chỉ sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.
d) Bổ sung quy định về xử lý tài sản công khi chuyển đổi mô hình hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian tới.
7. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân
Chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng trên cơ sở các quy định tại Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 26/11/2009 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại lực lượng vũ trang nhân dân. Theo đó, tài sản công tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm: tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng và tài sản phục vụ công tác quản lý. Một số nội dung cơ bản như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục cụ thể tài sản đặc biệt, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc biệt và ban hành theo thẩm quyền danh mục cụ thể tài sản chuyên dùng tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.
b) Không được sử dụng tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết và hình thức kinh doanh khác.
c) Trước khi sử dụng tài sản công, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định đưa tài sản công vào biên chế tài sản; khi không còn sử dụng tài sản công, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định thực hiện loại khỏi biên chế tài sản.
d) Việc hình thành, quản lý, sử dụng, xử lý tài sản phục vụ công tác quản lý, các nội dung về hình thành, quản lý, sử dụng, xử lý tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được quy định tại Điều 65 của Luật được áp dụng quy định có liên quan theo chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước; đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thì được áp dụng quy định có liên quan theo chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập.
8. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại các tổ chức
Về cơ bản chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại các tổ chức được kế thừa các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, một số nội dung được điều chỉnh như sau:
a) Có một điều riêng quy định về tài sản tại cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam. Theo đó, tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm: (i) Tài sản được Nhà nước giao bằng hiện vật và tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ ngân sách nhà nước; (ii) Tài sản đã có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển giao quyền sở hữu; tài sản được hình thành từ đảng phí và nguồn thu khác của Đảng. Việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản công quy định tại Luật này và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
b) Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội được sử dụng tài sản công được giao vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết khi tuân thủ 07 điều kiện quy định tại Luật. Việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết thực hiện theo quy định áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
9. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công phục vụ công tác quản lý của cơ quan dự trữ nhà nước:
Việc quản lý, sử dụng tài sản công phục vụ công tác quản lý của cơ quan dự trữ nhà nước được thực hiện theo quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước. Ngoài ra, cơ quan dự trữ nhà nước được:
a) Sử dụng kho dự trữ để bảo quản tài sản công đã có quyết định thu hồi hoặc đã có quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân trong thời gian chờ xử lý theo nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.
b) Được khai thác kho khi chưa sử dụng hết công suất. Việc khai thác kho phải bảo đảm phù hợp với công năng, không làm ảnh hưởng tới bí mật, an toàn dự trữ quốc gia, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và phải được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép.
10. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng
Luật quy định các nội dung về quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng; hồ sơ, thống kê, kế toán, kiểm kê, đánh giá lại, báo cáo, bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng; khai thác, xử lý tài sản kết cấu hạ tầng; quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hình thức đối tác công - tư. Về cơ bản, các nội dung này được xây dựng trên cơ sở các quy định tại Nghị định số 10/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ và các văn bản dưới luật khác đã được kiểm nghiệm và chứng minh sự phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện. Một số nội dung chính như sau:
a) Tất cả các tài sản kết cấu hạ tầng đều phải được giao cho đối tượng quản lý để xác định chủ thể chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong quản lý đối với loại tài sản này. Đối tượng được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp và đối tượng khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
b) Mọi tài sản kết cấu hạ tầng phải được bảo trì theo tiêu chuẩn, định mức và quy trình kỹ thuật bảo trì nhằm duy trì tình trạng kỹ thuật của tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm hoạt động bình thường và an toàn khi sử dụng. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu và năng lực được đăng ký tham gia thực hiện việc bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng.
c) Việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng được thực hiện theo các phương thức: (i) Đối tượng được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng trực tiếp tổ chức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng; (ii) Chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng; (iii) Cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng; (iv) Chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng; (v) Phương thức khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý, khả năng khai thác tài sản kết cấu hạ tầng và các phương thức theo quy định của Luật, đối tượng được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng chủ động lập hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên lập đề án khai thác tài sản trình cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để triển khai thực hiện. Nhằm định hướng cho việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng có hiệu quả, Luật quy định theo hướng ưu tiên áp dụng các hình thức chuyển giao quyền khai thác cho các tổ chức, cá nhân có chức năng và năng lực thực hiện.
d) Quy định chế độ quản lý, sử dụng đối với tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hình thức đối tác công - tư về các nội dung: bàn giao tài sản kết cấu hạ tầng để thực hiện dự án đối tác công - tư, chế độ báo cáo, chuyển giao tài sản được hình thành thông qua quá trình thực hiện dự án theo hình thức đối tác công - tư cho Nhà nước.
đ) Quy định các hình thức xử lý tài sản kết cấu hạ tầng bao gồm: Thu hồi, điều chuyển, bán, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao, thanh lý, xử lý trong trường hợp bị mất, bị hủy hoại.
7. Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
11. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp:
Tài sản công tại doanh nghiệp gồm 02 loại: Tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và đã được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Đối với tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và đã được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, việc quản lý, sử dụng được thực hiện theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
Đối với tài sản công do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Luật quy định một số nội dung quản lý để rõ quyền, trách nhiệm của các cơ quan liên quan, tránh sử dụng lãng phí, thất thoát tài sản, cũng như có cơ chế để quản lý, sử dụng, phát triển nhóm tài sản này gồm: doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản được giao đúng mục đích, công năng sử dụng của tài sản; doanh nghiệp không được sử dụng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, góp vốn hoặc chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức, cá nhân khác; kinh phí sửa chữa, bảo trì tài sản (nếu có) do doanh nghiệp bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; doanh nghiệp có trách nhiệm hạch toán, tính hao mòn tài sản được giao theo quy định của pháp luật; số tiền thu được từ khai thác, xử lý tài sản công được sử dụng để chi trả các chi phí có liên quan, trả nợ vốn vay, vốn huy động (nếu có), thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật, phần còn lại được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước.
12. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước
Luật quy định các nội dung về: hình thành tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước; sử dụng, hạch toán, báo cáo tài sản; hình thức xử lý, thẩm quyền quyết định xử lý tài sản; quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước. Về cơ bản các nội dung này được xây dựng trên cơ sở các quy định tại Chỉ thị số 17/2007/CT-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của các Bộ có liên quan. Đồng thời, bổ sung quy định về quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước. Theo đó:
a) Tài sản được trang bị để triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ được ưu tiên xử lý giao hoặc bán cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ để phát huy kết quả của nhiệm vụ hoặc sử dụng tài sản để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường hợp tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ không nhận hoặc không mua thì được xử lý theo một trong các hình thức: điều chuyển, bán, thanh lý, tiêu hủy.
b) Tài sản là kết quả của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được ưu tiên xử lý giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ để phát huy kết quả của nhiệm vụ hoặc sử dụng tài sản để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; trường hợp tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ không có nhu cầu hoặc không có khả năng thực hiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thì giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật.
13. Về chế độ quản lý, sử dụng tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân
Luật quy định các nội dung về: thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản; bảo quản tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; hình thức xử lý, thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý, trình tự xử lý tài sản. Về cơ bản các nội dung này được quy định “luật hóa” từ các quy định tại Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 của Chính phủ. Một số nội dung được điều chỉnh như sau:
a) Giao trách nhiệm lập phương án xử lý tài sản cho cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 19 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
b) Việc tổ chức bán tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân có thể được thực hiện tập trung thông qua cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 19 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
14. Chế độ quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên
Luật quy định nguyên tắc chung trong quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên; hình thức, phương thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên (với vị trí là một loại tài sản công quan trọng).
Đối với đất đai, các hình thức khai thác nguồn lực tài chính bao gồm: thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; thu thuế, phí, lệ phí liên quan đến đất đai; sử dụng quỹ đất để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng các công trình theo hình thức hợp đồng BT; sử dụng giá trị quyền sử dụng đất từ việc khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng; các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Đối với tài nguyên, các hình thức khai thác nguồn lực tài chính bao gồm: thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên; thu tiền sử dụng tài nguyên, tiền thuê tài nguyên; thu thuế tài nguyên; thu phí, lệ phí trong quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Các nội dung khác của chế độ quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên được thực hiện theo quy định tại Luật Tần số vô tuyến điện, Luật viễn thông, Luật đất đai, Luật khoáng sản, Luật tài nguyên nước và các luật về tài nguyên khác.
15. Hệ thống thông tin về tài sản công và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công
Trên cơ sở kết quả xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước theo quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, nhằm đáp ứng yêu cầu kế toán tài sản công, nắm chắc nguồn lực của Nhà nước để có kế hoạch và tổ chức quản lý, sử dụng, khai thác có hiệu quả, bền vững, Luật lấy Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước hiện tại với 4 nhóm tài sản (tài sản công tại cơ quan tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ; tài sản dự án sử dụng vốn nhà nước và tài sản là công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung) làm trung tâm và mở rộng phạm vi theo hướng kết nối với các cơ sở dữ liệu về tài sản chuyên ngành nhằm bảo đảm tính bao quát, thống nhất; việc tổ chức vận hành thông suốt, an ninh, an toàn và chi phí thấp.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công sẽ là kênh cung cấp thông tin tổng hợp quan trọng về tài sản công, đặc biệt là tổng nguồn lực tài sản công, làm cơ sở để các cơ quan nhà nước trong quá trình điều hành vĩ mô, điều hành ngân sách nhà nước, phục vụ Chính phủ điện tử.
Bên cạnh đó, Luật quy định Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công là một bộ phận của hệ thống thông tin về tài sản công; Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công dự kiến sẽ được Bộ Tài chính xây dựng, quản lý và vận hành để thực hiện việc bán tài sản công, cho thuê tài sản công, chuyển nhượng, cho thuê quyền khai thác tài sản công và các dịch vụ khác về tài sản.
V. CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ NGUỒN LỰC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN LUẬT
Kinh phí triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được bố trí từ ngân sách nhà nước trong dự toán chi thường xuyên hàng năm và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan được phân công chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bảo đảm việc triển khai thi hành Luật, gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự toán ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
VI. TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT ĐẾN NGƯỜI DÂN, XÃ HỘI
Việc ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công sẽ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cũng như tạo ra hệ thống các công cụ để phục vụ cho công tác quản lý, sử dụng tài sản công. Các công cụ đó bao gồm cả công cụ hành chính, kinh tế, kiểm tra, giám sát để quản lý tài sản.
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công cũng giúp hình thành bộ tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công phù hợp với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, của cán bộ công chức, viên chức theo hướng đảm bảo chặt chẽ, hợp lý, đi cùng với đó là thuê, khoán kinh phí sử dụng tài sản công phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế. Hệ thống tiêu chuẩn, định mức sẽ là cơ sở để thực hiện việc quản lý, sử dụng, xử lý đối với tài sản công bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.
Thông qua việc triển khai Luật sẽ có tác động tích cực tới nguồn thu từ tài sản công đặc biệt là nhà đất, hay việc sử dụng tài sản công để tham gia thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, chuyển nhượng, cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, khai thác nguồn thu từ đất đai, tài nguyên. Hiện nay số thu từ tài sản công chiếm 1 phần quan trọng trong ngân sách nhà nước. Trong Luật quy định rất rõ các hình thức khai thác nguồn lực, quy trình thực hiện việc khai thác, nguyên tắc thực hiện khai thác (trong đó chú trọng đến các công cụ thị trường như đấu thầu, đấu giá, định giá để đảm bảo việc khai thác tuân thủ theo cơ chế thị trường).
Bên cạnh đó, thông qua hệ thống thông tin về tài sản công và Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công cũng như hệ thống giao dịch về tài sản công sẽ làm thay đổi phương thức quản lý đối với tài sản công, dần dần các thủ tục sẽ được thực hiện thông qua phương tiện hiện đại, giao dịch điện tử thay cho phương pháp thủ công như hiện nay (kể từ việc thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý, sử dụng tài sản công đến việc xử lý bán, thanh lý đối với tài sản sẽ được thực hiện thông qua các công cụ điện tử để giúp cho việc quản lý công khai, minh bạch, nhanh gọn hơn).
VII. TRIỂN KHAI LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG
Để nhanh chóng đưa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đi vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm thi hành đồng bộ, thống nhất, kịp thời và hiệu quả, cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:
1. Xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công:
- Bộ Tài chính xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, trong đó phân công thực hiện và tiến độ thực hiện cụ thể đối với từng nội dung.
- Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Kế hoạch triển khai Luật của bộ, ngành, địa phương mình.
2. Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành:
Để triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, các cơ quan có thẩm quyền đã xây dựng, trình và dự kiến trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành như sau:
- Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng tài sản của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Nghị định của Chính phủ quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô công.
- Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.
- Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng tài sản công của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
- Nghị định của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng các công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.
- Nghị định của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc biệt tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Bộ Quốc phòng.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc biệt tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Bộ Công an.
Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với quy định của Luật.
3. Tuyên truyền, phổ biến về Luật Quản lý, sử dụng tài sản công:
- Bộ Tài chính tổ chức quán triệt việc thi hành và phổ biến nội dung của Luật cho các Bộ, cơ quan trung ương, các địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức quán triệt việc thi hành và phổ biến nội dung của Luật cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương./.

 
 
 


[1] Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước, từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/7/2016, tài sản nhà nước (gồm: đất, nhà, xe ô tô, các tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên) trong khu vực hành chính sự nghiệp được đầu tư tăng thêm 94.285 tài sản với tổng giá trị là 220.774,71 tỷ đồng.
[2] Theo nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế, tổng giá trị tài sản công của mỗi quốc gia thông thường có quy mô bằng 4 lần GDP của quốc gia đó.
[3] Bộ luật Dân sự, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kiểm toán Nhà nước, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp,…
[4] Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của BCHTW Đảng (khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí...
[5] Gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan dự trữ nhà nước.


Tác giả: Phòng GD&ĐT
Nguồn: thcssalong.pgdmuongcha.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip
Tài liệu mới