Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 11 : 106
Năm 2019 : 2.996
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Phổ biến Luật quý I năm 2018

De cuong luat to chuc chinh quyen dia phuong trinh
UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN
HỘI ĐỒNG PBGDPL
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
 
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU
LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
(Tài liệu dành cho Báo cáo viên pháp luật
các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên)

 
 
 

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015, Chủ tịch nước ký lệnh công bố số 05/2015/L-CTN ngày 03 tháng 7 năm 2015. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện, cơ bản thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trong thời gian qua và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới cho thấy Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã bộc lộ những vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung như sau:
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cơ bản giống nhau ở cả 3 cấp, chưa thể hiện tính gắn kết thống nhất giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương, chưa phân biệt theo đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo; chưa phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; một số nhiệm vụ theo luật định, chính quyền cấp xã không có khả năng thực thi;
- Chưa quy định rõ các vấn đề do tập thể Ủy ban nhân dân thảo luận, quyết định và các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới về chính quyền địa phương, như: thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước (Điều 52); quy định đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung ương; quy định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính (Điều 110); quy định về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính (Điều 111); quy định về phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; về việc thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước cấp trên giao (Điều 112).
Định hướng của Đảng yêu cầu tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương cần được thể chế hóa trong Luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp.
Kết quả thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và thí điểm Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở một số đơn vị hành chính thời gian qua; các Đề án mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng; các Đề án về đặc khu kinh tế (Vân Đồn, Quảng Ninh; Vân Phong, Khánh Hòa; Phú Quốc, Kiên Giang) cũng đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu về mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp.
Từ những căn cứ nêu trên, việc xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương để thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 nhằm kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và thể chế hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp là cần thiết.
II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
1. Mục tiêu
Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương phù hợp với Hiến pháp năm 2013; bảo đảm chính quyền địa phương các cấp hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, hệ thống hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân trong việc xây dựng và giám sát hoạt động của chính quyền địa phương.
2. Quan điểm
- Thể chế hóa các chủ trương của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
- Trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Chính phủ với chính quyền địa phương cấp tỉnh, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc và mối quan hệ công tác của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính bảo đảm gắn kết thống nhất giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; phân định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền giữa tập thể Ủy ban nhân dân và cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên; tăng cường công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.
- Kế thừa, phát triển và hoàn thiện những quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả; sửa đổi những quy định mà qua thực tiễn cho thấy không còn phù hợp.
- Tiếp thu có chọn lọc các kết quả từ các sáng kiến cải cách chính quyền địa phương trong những năm qua; nghiên cứu, chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, bảo đảm Luật Tổ chức chính quyền địa phương có tính khái quát cao, ổn định, hiệu lực lâu dài và thống nhất với các Luật quy định về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các luật có liên quan.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Luật Tổ chức chính quyền địa phương có 08 chương và 143 điều, tăng 02 chương và 03 điều so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, nội dung cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung: Gồm 15 điều (từ Điều 1 đến Điều 15), quy định về phạm vi điều chỉnh; đơn vị hành chính; phân loại đơn vị hành chính; tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương; Hội đồng nhân dân; tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương; phân quyền cho chính quyền địa phương; phân cấp cho chính quyền địa phương; ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; quan hệ công tác giữa chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương.
Chương II. Chính quyền địa phương ở nông thôn: Chương này gồm 3 mục. Mục 1 gồm 7 điều (từ Điều 16 đến Điều 22) quy định về nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở tỉnh, bao gồm các nội dung về: chính quyền địa phương ở tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Mục 2 gồm 7 điều (từ Điều 23 đến Điều 29) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở huyện, bao gồm các nội dung về: chính quyền địa phương ở huyện; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân huyện; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân huyện; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Mục 3 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở xã, gồm 7 điều (từ Điều 30 đến Điều 36) quy định về các nội dung: chính quyền địa phương ở xã; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân xã; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân xã; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
Chương III. Chính quyền địa phương ở đô thị: Chương này gồm 5 mục. Mục 1 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, gồm 7 điều (từ Điều 37 đến Điều 43) quy định các nội dung về: chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương. Mục 2 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở quận, gồm 7 điều (từ Điều 44 đến Điều 50), quy định các nội dung về: chính quyền địa phương ở quận; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở quận; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân quận; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân quận; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân quận; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận. Mục 3 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, gồm 7 điều (từ Điều 51 đến Điều 57) quy định các nội dung về: chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Mục 4 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở phường, gồm 7 điều (từ Điều 58 đến Điều 64) quy định các nội dung về: chính quyền địa phương ở phường; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân phường; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân phường; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, Mục 5 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở thị trấn, gồm 7 điều (từ Điều 65 đến Điều 71), quy định các nội dung về: chính quyền địa phương ở thị trấn; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị trấn; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân thị trấn; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thị trấn; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân thị trấn; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân thị trấn; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn.
Chương IV. Chính quyền địa phương ở hải đảo: Gồm 02 điều (từ Điều 72 đến Điều 73) quy định về chính quyền địa phương ở hải đảo và nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở hải đảo.
Chương V. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt: Chương này gồm 4 điều (từ Điều 74 đến Điều 77) quy định các nội dung về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình tự, thủ tục quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Chương VI. Hoạt động của chính quyền địa phương: Chương này gồm 3 mục. Mục 1 về hoạt động của Hội đồng nhân dân, gồm 35 điều (từ Điều 78 đến Điều 112) quy định các nội dung về: kỳ họp Hội đồng nhân dân; chương trình kỳ họp Hội đồng nhân dân; triệu tập kỳ họp Hội đồng nhân dân; khách mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân; trách nhiệm của chủ tọa phiên họp Hội đồng nhân dân; bầu các chức danh của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu; trình tự thông qua dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân; ban hành nghị quyết, đề án, báo cáo, biên bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân; hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; lấy phiếu tín nhiệm; bỏ phiếu tín nhiệm; xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương; biểu quyết tại phiên họp toàn thể; tài liệu lưu hành tại kỳ họp Hội đồng nhân dân; trách nhiệm tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân; trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân; trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật; quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc yêu cầu cung cấp thông tin; quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân; thôi làm nhiệm vụ đại biểu, tạm đình chỉ và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân; việc bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân; phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; tiếp công dân của Thường trực Hội đồng nhân dân; các lĩnh vực phụ trách của các Ban của Hội đồng nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của Hội đồng nhân dân; quan hệ phối hợp công tác của các Ban của Hội đồng nhân dân; thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án của Ban của Hội đồng nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Mục 2 về hoạt động của Ủy ban nhân dân, gồm 13 điều (từ Điều 113 đến Điều 125) quy định các nội dung về: phiên họp Ủy ban nhân dân; triệu tập phiên họp Ủy ban nhân dân; trách nhiệm chủ tọa phiên họp Ủy ban nhân dân; khách mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân; biểu quyết tại phiên họp Ủy ban nhân dân; biểu quyết bằng hình thức gửi phiếu ghi ý kiến; biên bản phiên họp Ủy ban nhân dân; thông tin về kết quả phiên họp Ủy ban nhân dân; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của Ủy viên Ủy ban nhân dân; điều động, cách chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; tổ chức hội nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Nhân dân. Mục 3 về trụ sở, kinh phí hoạt động, bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương, gồm 02 điều (từ Điều 126 đến Điều 127) quy định các nội dung về trụ sở, kinh phí hoạt động của chính quyền địa phương và bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương.
Chương VII. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính: Chương này gồm 02 mục. Mục 1 về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, gồm 06 điều (từ Điều 128 đến Điều 133), quy định các nội dung về: nguyên tắc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính) giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính; xây dựng đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; lấy ý kiến Nhân dân địa phương về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; hội đồng nhân dân thông qua đề nghị thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; thẩm tra đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính. Mục 2 về tổ chức chính quyền địa phương trong trường hợp thay đổi địa giới đơn vị hành chính và các trường hợp đặc biệt khác, gồm 06 điều (từ Điều 134 đến Điều 139) quy định các nội dung về: tổ chức chính quyền địa phương khi nhập các đơn vị hành chính cùng cấp; tổ chức chính quyền địa phương khi chia một đơn vị hành chính thành nhiều đơn vị hành chính cùng cấp; tổ chức chính quyền địa phương khi thành lập mới một đơn vị hành chính trên cơ sở điều chỉnh một phần địa giới của các đơn vị hành chính khác; hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân khi điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính hoặc di chuyển tập thể dân cư; hoạt động của Hội đồng nhân dân khi không còn đủ hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân; giải tán Hội đồng nhân dân.
Chương VIII. Điều khoản thi hành: Chương này gồm 04 điều (từ Điều 140 đến Điều 143) quy định các nội dung về sửa đổi, bổ sung Điều 4 của Luật Quy hoạch đô thị; hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
IV. NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật
Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định các vấn đề về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Theo đó, so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung quy định về đơn vị hành chính và thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.
2. Về đơn vị hành chính
Luật quy định các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; xã, phường, thị trấn; đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Để cụ thể hóa Khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương đã xác định “đơn vị hành chính tương đương” thuộc thành phố trực thuộc trung ương là “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”.
Việc phân loại đơn vị hành chính được quy định như sau: thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt; các đơn vị hành chính cấp tỉnh còn lại được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III; đơn vị hành chính cấp huyện được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III; đơn vị hành chính cấp xã được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III.
3. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính
- Tất cả các đơn vị hành chính đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, đồng thời chấm dứt việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường kể từ khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực vào ngày 01/01/2016.
- Đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo, tổ chức chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện tại hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã cũng tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
- Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân, số lượng thành viên Ủy ban nhân dân và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.
4. Về phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương
Đây là điểm mới của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 nhằm cụ thể hóa Điều 112 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, Luật quy định các nguyên tắc phân định thẩm quyền, các trường hợp phân quyền, phân cấp, ủy quyền. Cụ thể như sau:
- Có 6 nguyên tắc về phân định thẩm quyền:
+ Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia;
+ Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
+ Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ;
+ Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực;
+ Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp huyện; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác;
+ Chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp.
- Về định hướng phân quyền, phân cấp, ủy quyền:
+ Về phân quyền: Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong các luật; chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền.
+ Về phân cấp: Luật quy định căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước thực hiện phân cấp. Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp.
+ Về ủy quyền: Luật quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
5. Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương và của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân  
Luật có những điểm mới cơ bản sau đây:
- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.
- Quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương phải thực hiện như tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn; quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền...
- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hợp thành chính quyền địa phương. Theo đó:
+ Với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương như quyết định ngân sách; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong cơ cấu của chính quyền địa phương; quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật, các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân trên địa bàn.
+ Với tính chất là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ xây dựng, trình Hội đồng nhân dân quyết định những nội dung thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và tổ chức thực hiện các nghị quyết này sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua. Đồng thời, Ủy ban nhân dân còn có nhiệm vụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên địa bàn trong phạm vi được phân quyền, phân cấp, ủy quyền.
+ Với tính chất là người đứng đầu Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước trên địa bàn, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính ở địa phương.
- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn. Theo đó:
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị...
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Cụ thể, ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề của địa phương gồm: thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và bầu nhân sự của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp.
6. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
Kế thừa các nội dung hợp lý của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; đồng thời bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Đại biểu Hội đồng nhân dân (về giám sát của Hội đồng nhân dân do Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định cụ thể). Theo đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân có những nội dung mới sau:
- Thứ nhất, quy định tiêu chuẩn, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (chuyển từ Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay sang quy định tại Luật này), trong đó có việc tăng thêm số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 lên 105 đại biểu.
- Thứ hai, tăng cường vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân, bảo đảm hoạt động thường xuyên giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân; quy định rõ Thường trực Hội đồng nhân dân họp thường kỳ mỗi tháng một lần.
- Thứ ba, thay chức danh Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện bằng chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; mở rộng thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã vẫn gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
- Thứ tư, ở Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban đô thị; ở Hội đồng nhân dân cấp xã thành lập thêm hai ban là Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Thành viên các ban Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.
- Thứ năm, quy định đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Theo đó, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; ở cấp xã, quy định Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
- Thứ sáu, quy định khi có từ 10% trở lên trong tổng số cử tri trên địa bàn cấp xã yêu cầu, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm xem xét tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân để bàn về nội dung kiến nghị của cử tri.
- Thứ bảy, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thành lập Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân; Hội đồng nhân dân cấp xã không thành lập Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.
7. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
Kế thừa các nội dung hợp lý của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; đồng thời bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân, nguyên tắc hoạt động của Ủy ban nhân dân; phiên họp Ủy ban nhân dân; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành viên Uy ban nhân dân; mối quan hệ phối hợp công tác của Ủy ban nhân dân; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Theo đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân có những nội dung mới sau:
- Thứ nhất, quy định thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an để bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể của Ủy ban nhân dân bao quát đầy đủ các lĩnh vực chuyên môn, tạo điều kiện thực hiện việc giám sát của Hội đồng nhân dân và lấy phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và cơ quan quân sự, công an ở địa phương; quy định thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.
- Thứ hai, quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo phân loại đơn vị hành chính, cụ thể như sau:
+ Đối với cấp tỉnh: thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có không quá 05 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; các thành phố trực thuộc trung ương còn lại và các tỉnh loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; tỉnh loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
+ Đối với cấp huyện: loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
+ Đối với cấp xã: loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; loại II và loại III có 01 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Thứ ba, quy định kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân do người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn, trường hợp không phê chuẩn thì phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do và yêu cầu Hội đồng nhân dân tổ chức bầu lại chức danh không được phê chuẩn. Riêng đối với chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân không thực hiện việc phê chuẩn kết quả bầu cử như Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình ngay sau khi được Hội đồng nhân dân bầu.
- Thứ tư, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo hướng đề cao trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình và trong việc điều động, cách chức, đình chỉ chức vụ đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, chỉ định quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp trong trường hợp khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân.
- Thứ năm, quy định Ủy ban nhân dân cấp xã mỗi năm có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân về tình hình hoạt động của Ủy ban nhân dân và những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân ở địa phương.
8. Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của chính quyền địa phương
Đây là nội dung mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, theo đó Luật quy định 3 nội dung sau:
- Thứ nhất, quy định trụ sở, kinh phí hoạt động của chính quyền địa phương.
- Thứ hai, quy định bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương gồm có Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
- Thứ ba, giao Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và việc tổ chức công tác tham mưu, phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã.
9. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
Đây là nội dung mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 để thực hiện Điều 110 Hiến pháp năm 2013, theo đó Luật quy định 4 nội dung sau:
- Thứ nhất, quy định các nguyên tắc, điều kiện thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính và giao Chính phủ trình Ủy ban thường vụ quốc hội quy định cụ thể tiêu chuẩn thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.
- Thứ hai, quy định thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính, giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính.
- Thứ ba, quy định việc lấy ý kiến Nhân dân địa phương là toàn bộ cử tri ở địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính. Nếu có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án mới trình cấp có thẩm quyền xem xét.
- Thứ tư, sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về tổ chức chính quyền địa phương trong trường hợp thay đổi địa giới đơn vị hành chính và các trường hợp đặc biệt khác để khắc phục những bất cập trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.
10. Về hiệu lực và triển khai thi hành Luật
Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định các nội dung sau đây:
- Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 4 của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 theo hướng bỏ nội dung quy định về phân cấp quản lý hành chính đô thị trong Luật Quy hoạch đô thị (Khoản 2 và một phần Khoản 3 Điều 4) và giao Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể việc phân loại đô thị phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
- Thứ hai, quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành. Đồng thời quy định rõ kể từ ngày Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.
- Thứ ba, quy định chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
V. VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 sau 12 năm thực hiện đã được thay thế bằng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Từ nay đến khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành, các cơ quan có thẩm quyền được Luật giao sẽ ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để triển khai thực hiện Luật và chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Trên cơ sở khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và bổ sung những điểm mới để thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương sẽ tạo hành lang pháp lý hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm việc tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền dân chủ trực tiếp và gián tiếp của Nhân dân ở địa phương, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước./. 

Tác giả: Phoòng Giáo dục Mường ChàGD&ĐT Mường Chà
Nguồn: thcssalong.pgdmuongcha.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip
Tài liệu mới