Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 11 : 106
Năm 2019 : 2.996
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Phổ biến Luật quý I năm 2018

De cuong gioi thieu Luat Canh ve
UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN
HỘI ĐỒNG PHPBGDPL
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT CẢNH VỆ
(Tài liệu dành cho Báo cáo viên pháp luật
các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên)

 
 
 

Luật Cảnh vệ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017. Chủ tịch nước ký Lệnh số 09/2017/L-CTN công bố ngày 03 tháng 7 năm 2017. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CẢNH VỆ
Ngày 02 tháng 4 năm 2005, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cảnh vệ. Pháp lệnh Cảnh vệ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2005. Pháp lệnh được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để lực lượng Cảnh vệ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần phục vụ sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước cũng như công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Sau hơn 10 năm tổ chức thực hiện, nhìn chung việc triển khai Pháp lệnh đã đạt được những kết quả tích cực. Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác cảnh vệ đã được nâng lên một bước; sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền từ trung ương đến địa phương và của nhân dân đối với công tác cảnh vệ đã có nhiều chuyển biến, các biện pháp cảnh vệ được công khai hóa, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện; từng bước nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ tích cực của hệ thống chính trị và toàn xã hội. Vì vậy, trong những năm qua, mặc dù tình hình an ninh, trật tự thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu công tác cảnh vệ ngày càng cao, nhưng lực lượng Cảnh vệ đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, tích cực phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ của Bộ Công an, Công an các địa phương và các ngành, các cấp triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác; tổ chức bảo vệ tuyệt đối an toàn hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, các hội nghị quốc tế lớn và các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của đất nước, được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, dư luận trong nước cũng như quốc tế đánh giá cao. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao và kỷ luật công tác chặt chẽ. Cơ sở vật chất, trang bị phương tiện cho lực lượng Cảnh vệ đã được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an từng bước quan tâm đầu tư, nâng cấp tương đối đồng bộ. Quan hệ quốc tế về công tác cảnh vệ được đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi trong phối hợp triển khai bảo vệ đối tượng cảnh vệ cả trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực cảnh vệ mới là pháp lệnh nên hiệu lực thi hành thấp, chưa tương xứng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh vệ trong tình hình hiện nay. Mặt khác, trước sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như việc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới đã đặt ra các yêu cầu mới, cụ thể là:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng". Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật Cảnh vệ để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm cho hoạt động giữ gìn an ninh, trật tự của lực lượng Cảnh vệ được thuận lợi, vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai, trong những năm qua, tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở trong nước và trên thế giới diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, tình hình khủng bố có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên đi thăm và làm việc ở các nước trên thế giới; nước ta cũng ngày càng đón nhiều đoàn nguyên thủ quốc gia, đoàn khách quốc tế, tổ chức nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng. Vì vậy, yêu cầu đối với công tác cảnh vệ ngày càng nặng nề và phức tạp hơn, cần có các quy định cụ thể tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho lực lượng Cảnh vệ thực thi nhiệm vụ, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.
Thứ ba, những năm gần đây nhiều luật như Luật trưng mua, trưng dụng tài sản, Luật hàng không dân dụng Việt Nam... được ban hành. Trong đó, có một số quy định chưa thống nhất, nhất quán cho việc triển khai thực hiện công tác cảnh vệ như: các quy định về huy động phương tiện, tài sản, việc miễn phí cầu đường cho đối tượng cảnh vệ; mang, sử dụng vũ khí trên tàu bay.... Vì vậy, cần xây dựng Luật Cảnh vệ để đảm bảo hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng Cảnh vệ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, qua hơn 10 năm triển khai thi hành, Pháp lệnh Cảnh vệ đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải được hoàn thiện, cụ thể như:
- Pháp lệnh chưa quy định rõ về trách nhiệm phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ giữa Bộ Công an với các Bộ, ngành liên quan, giữa lực lượng Cảnh vệ với các cơ quan của Việt Nam trên lãnh thổ nước ngoài. Hiện nay, việc thực hiện phối hợp này chủ yếu áp dụng theo quy chế phối hợp nên việc tổ chức phương án cảnh vệ còn bị động, lúng túng.
- Các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân đối với công tác cảnh vệ còn chung chung, khó thực hiện; chưa quy định cụ thể về chế độ, chính sách của Nhà nước đối với cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, cá nhân bị thương tích, tổn hại về sức khỏe hoặc bị thiệt hại về tính mạng, tài sản trong khi tham gia phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ.
- Pháp lệnh chưa quy định cụ thể nội dung, biện pháp và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác cảnh vệ; chưa quy định về hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ.
Từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Cảnh vệ là cần thiết.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT
Luật Cảnh vệ được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
Một là, quán triệt, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế; phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Hai là, việc xây dựng Luật Cảnh vệ được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong những năm qua; kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh Cảnh vệ năm 2005, khắc phục những tồn tại, bất cập, hạn chế, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Cảnh vệ chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Ba là, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, tương xứng hơn cho công tác cảnh vệ; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Bốn là, phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên; tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Cảnh vệ một số nước phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
III. CƠ CẤU, BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật Cảnh vệ gồm có 6 chương với 33 điều. So với Pháp lệnh Cảnh vệ năm 2005, Luật Cảnh vệ đã bổ sung 02 chương, 12 điều. Cụ thể như sau:
- Chương I. Những quy định chung. Chương này gồm 9 điều (từ Điều 1 đến Điều 9) quy định các nội dung về: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; vị trí, chức năng của lực lượng Cảnh vệ; nguyên tắc công tác cảnh vệ; chính sách đối với lực lượng Cảnh vệ và công tác cảnh vệ; chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ; hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ và các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác cảnh vệ.
- Chương II. Đối tượng cảnh vệ, biện pháp và chế độ cảnh vệ. Chương này gồm 6 điều (từ Điều 10 đến Điều 15) quy định các nội dung về: đối tượng cảnh vệ; biện pháp, chế độ cảnh vệ đối với người giữ chức vụ, chức danh cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; biện pháp, chế độ cảnh vệ đối với khách quốc tế đến thăm, làm việc tại Việt Nam; biện pháp cảnh vệ đối với khu vực trọng yếu; biện pháp cảnh vệ đối với sự kiện đặc biệt quan trọng; quyền và trách nhiệm của người là đối tượng cảnh vệ.
- Chương III. Lực lượng Cảnh vệ; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của lực lượng Cảnh vệ và chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ. Chương này gồm 8 điều (từ Điều 16 đến Điều 23) quy định các nội dung về: lực lượng Cảnh vệ; điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn người vào lực lượng Cảnh vệ; nhiệm vụ của lực lượng Cảnh vệ; nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ; quyền hạn của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Cục trưởng Cục Bảo vệ an ninh Quân đội, cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ trong khi thi hành nhiệm vụ cảnh vệ; quy định nổ súng khi thi hành nhiệm vụ; huy động người, phương tiện để thực hiện công tác cảnh vệ; chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ.
- Chương IV. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác cảnh vệ. Chương này gồm 7 điều (từ Điều 24 đến Điều 30) quy định các nội dung về: trách nhiệm của Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Công an; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác cảnh vệ.
- Chương V. Khen thưởng và xử lý vi phạm. Chương này gồm 2 điều (từ Điều 31 đến Điều 32) quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm.
- Chương VI. Điều khoản thi hành. Chương này gồm 1 điều (Điều 33) quy định về hiệu lực thi hành.
IV. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT    
1. Chương I. Những quy định chung
Trong Chương này, Luật bổ sung 02 điều mới so với Pháp lệnh Cảnh vệ quy định về vị trí, chức năng của lực lượng Cảnh vệ và hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ. Theo đó, lực lượng Cảnh vệ được xác định là lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có chức năng thực hiện công tác cảnh vệ để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ. Hoạt động hợp tác giữa lực lượng Cảnh vệ Việt Nam và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và trên lãnh thổ nước ngoài được thực hiện theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận trực tiếp giữa Việt Nam với quốc gia có liên quan trên nguyên tắc có đi có lại, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Nội dung hợp tác bao gồm: Trao đổi thông tin về công tác cảnh vệ; Phối hợp triển khai thực hiện các biện pháp, chế độ cảnh vệ; Huấn luyện, diễn tập nâng cao năng lực cảnh vệ, đào tạo kỹ năng về công tác cảnh vệ; Hỗ trợ kỹ thuật, phương tiện chuyên dùng, vũ khí, trang bị phục vụ công tác cảnh vệ; Thực hiện nội dung hợp tác khác.
Luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc công tác cảnh vệ. Cụ thể có 5 nguyên tắc: (1) Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (2) Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; (3) Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hoạt động và hành vi, yếu tố khác xâm hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ; (4) Dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội; kết hợp giữa hoạt động công khai và hoạt động bí mật để thực hiện công tác cảnh vệ; (5) Bảo đảm sự chỉ huy, chỉ đạo tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Về các hành vi bị nghiêm cấm, trên cơ sở quy định tại Điều 9 Pháp lệnh Cảnh vệ, Luật đã sửa đổi, bổ sung thành 8 nhóm hành vi, bao gồm: Sử dụng vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc sinh học, chất độc hóa học, chất phóng xạ, công cụ hỗ trợ hoặc yếu tố khác gây nguy hiểm, đe dọa xâm hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ; Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng Cảnh vệ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ; Gây mất an ninh, trật tự; tụ tập đông người trái pháp luật tại khu vực, mục tiêu cảnh vệ; Làm lộ thông tin bí mật liên quan đến đối tượng cảnh vệ, công tác cảnh vệ; Làm giả, chiếm đoạt, mua bán, sử dụng trái phép, hủy hoại, làm sai lệch giấy tờ, tài liệu liên quan đến công tác cảnh vệ; Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh vệ hoặc lợi dụng việc tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Phân biệt đối xử về giới trong công tác cảnh vệ; Hành vi ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của đối tượng cảnh vệ; của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ khi thực hiện nhiệm vụ; của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ.
2. Chương II. Đối tượng cảnh vệ, biện pháp và chế độ cảnh vệ
Các quy định về đối tượng cảnh vệ, biện pháp và chế độ cảnh vệ quy định tại Chương này cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh cảnh vệ năm 2005; theo đó, không bổ sung đối tượng cảnh vệ. Theo quy định tại Điều 10 của Luật, đối tượng cảnh vệ bao gồm:
- Người giữ chức vụ, chức danh cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ; Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Thủ tướng Chính phủ; Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ.
- Khách quốc tế đến thăm, làm việc tại Việt Nam bao gồm: Người đứng đầu Nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ; Cấp phó của người đứng đầu Nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ, trên cơ sở có đi có lại; Khách mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; Khách mời khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trên cơ sở có đi có lại.
- Khu vực trọng yếu bao gồm: Khu vực làm việc của Trung ương Đảng; Khu vực làm việc của Chủ tịch nước; Khu vực làm việc của Quốc hội; Khu vực làm việc của Chính phủ; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Bảo tàng Hồ Chí Minh; Khu di tích Phủ Chủ tịch; Quảng trường Ba Đình; Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại đường Bắc Sơn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Luật giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định phạm vi cảnh vệ khu vực trọng yếu.
- Sự kiện đặc biệt quan trọng bao gồm: Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Kỳ họp của Quốc hội; Phiên họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; Hội nghị, lễ hội do Trung ương Đảng, Nhà nước tổ chức; đại hội đại biểu toàn quốc do tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương tổ chức; hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam có đối tượng cảnh vệ quy định tại khoản 1, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 10 tham dự hoặc chủ trì hội nghị.
Luật cũng quy định căn cứ tình hình an ninh chính trị trong từng giai đoạn, khi xét thấy cần thiết, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung đối tượng cảnh vệ và việc áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ phù hợp với quy định tại các điều 11, 12, 13 và 14 của Luật.
Điểm mới trong Chương này là đã quy định cụ thể các biện pháp, chế độ cảnh vệ đối với từng nhóm đối tượng cảnh vệ để tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện. Cụ thể, Luật quy định:
- Đối với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ: Bảo vệ tiếp cận; Tuần tra, canh gác thường xuyên tại nơi làm việc và nơi ở; Kiểm tra an ninh, an toàn đồ dùng, vật phẩm, phương tiện đi lại để phát hiện chất nổ, chất cháy, chất độc sinh học, chất độc hóa học, chất phóng xạ và vật nguy hiểm khác; kiểm nghiệm thức ăn, nước uống trước khi sử dụng; Khi đi công tác bằng ô tô được bố trí xe cảnh sát dẫn đường; đi bằng tàu hỏa được bố trí toa riêng, đi bằng tàu bay được sử dụng chuyên khoang hoặc chuyên cơ; đi bằng tàu thủy được sử dụng tàu, thuyền riêng có phương tiện dẫn đường, hộ tống bảo vệ và được bố trí lực lượng đi trước nắm tình hình, khảo sát để xây dựng, triển khai phương án bảo vệ; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
- Đối với nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Thủ tướng Chính phủ, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ: Bảo vệ tiếp cận; Canh gác thường xuyên tại nơi ở.
- Đối với Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ: Bảo vệ tiếp cận; Canh gác thường xuyên tại nơi làm việc và nơi ở; Khi đi công tác trong nước bằng ô tô được bố trí xe cảnh sát dẫn đường trong trường hợp cần thiết; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
- Đối với Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ: Bảo vệ tiếp cận; Khi đi công tác trong nước bằng ô tô được bố trí xe cảnh sát dẫn đường trong trường hợp cần thiết; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
Khi tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội phức tạp được tăng cường lực lượng và phương tiện bảo vệ đối tượng cảnh vệ.
- Đối với người đứng đầu Nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ các nước khi đến thăm, làm việc tại Việt Nam, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật và được bố trí phương tiện hộ tống theo nghi lễ đối ngoại của Nhà nước. Đối với cấp phó của người đứng đầu Nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ các nước khi đến thăm, làm việc tại Việt Nam, được áp dụng biện pháp, chế độ cảnh vệ quy định tại điểm a và điểm c khoản 4 Điều 11 của Luật và khi đi bằng ô tô được bố trí xe cảnh sát dẫn đường trong các hoạt động chính thức. Đối với khách mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc khách mời khác theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 khi đến thăm, làm việc tại Việt Nam thì căn cứ vào yêu cầu đối ngoại và thông lệ quốc tế, đề nghị của phía khách mời và tình hình thực tế để áp dụng một hoặc các biện pháp, chế độ cảnh vệ quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật.
- Đối với khu vực làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, được áp dụng biện pháp cảnh vệ: Tuần tra, canh gác thường xuyên; Kiểm tra, kiểm soát người, đồ vật và phương tiện ra, vào khu vực; Kiểm tra an ninh, an toàn trong trường hợp cần thiết; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
- Đối với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại đường Bắc Sơn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, được áp dụng biện pháp cảnh vệ: Tuần tra, canh gác thường xuyên; Kiểm tra an ninh, an toàn trong trường hợp cần thiết; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
- Đối với sự kiện đặc biệt quan trọng, căn cứ quy mô, tính chất, địa điểm và tình hình an ninh, trật tự tại thời điểm tổ chức sự kiện, đối tượng cảnh vệ quy định tại khoản 4 Điều 10 của Luật được áp dụng một hoặc các biện pháp cảnh vệ sau đây: Tuần tra, canh gác khu vực, địa điểm tổ chức; Tạm đình chỉ các hoạt động giao thông trong khu vực, địa điểm tổ chức; Kiểm tra an ninh, kiểm soát người, đồ vật, phương tiện ra, vào khu vực, địa điểm tổ chức; Biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân. Đối với đại biểu khi tham dự sự kiện được áp dụng biện pháp cảnh vệ như tuần tra, canh gác nơi ở tập trung của đại biểu; kiểm tra an ninh, an toàn phương tiện đưa và đón đại biểu; kiểm tra thức ăn, nước uống, đồ vật, phương tiện ra, vào khu vực nơi ở tập trung của đại biểu; tổ chức lực lượng và phương tiện nghiệp vụ chuyên dùng khi đại biểu hoạt động tập thể với số lượng đông, nhiều đoàn đi bằng ô tô, tàu hỏa hoặc tàu thuyền và biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia và Luật Công an nhân dân.
3. Chương III. Lực lượng Cảnh vệ; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của lực lượng Cảnh vệ và chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ
- Về lực lượng Cảnh vệ: Kế thừa pháp lệnh Cảnh vệ, Luật Cảnh vệ quy định lực lượng Cảnh vệ được tổ chức tại Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, bao gồm: Cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ thuộc Bộ Công an và cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ của Cục Bảo vệ an ninh Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng.
- Về quyền hạn của lực lượng Cảnh vệ: Điểm mới đáng chú ý của Luật Cảnh vệ là quy định rõ quyền hạn của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Cục trưởng Cục Bảo vệ anh ninh Quân đội và quyền hạn của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ để tránh lạm quyền trong quá trình thực thi nhiệm vụ; đồng thời, bổ sung một số quyền hạn mới cho cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ để đáp ứng yêu cầu công tác cảnh vệ trong tình hình hiện nay như quy định được sử dụng Giấy bảo vệ đặc biệt, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, tín hiệu của xe ưu tiên; được mạng theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật, công cụ hỗ trợ vào cảng hàng không và lên tàu bay để thực hiện công tác cảnh vệ. Cụ thể Luật quy định:
- Lực lượng Cảnh vệ thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ: Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ trong mọi tình huống; Chủ động thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình liên quan đến việc bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ; Tham mưu, đề xuất với Bộ trưởng Bộ Công an ban hành văn bản để thực hiện công tác cảnh vệ; tổ chức phối hợp, hiệp đồng triển khai phương án, kế hoạch bảo vệ; Hướng dẫn các lực lượng liên quan thực hiện công tác cảnh vệ; Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác cảnh vệ; Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác cảnh vệ.
- Lực lượng Cảnh vệ thuộc Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ: Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ do Quân đội đảm nhiệm trong mọi tình huống; Chủ động thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình liên quan đến việc bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ; Tham mưu, đề xuất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác cảnh vệ trong Quân đội; chủ trì, phối hợp, hiệp đồng với đơn vị có liên quan triển khai phương án, kế hoạch bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ khi đến thăm, làm việc trong khu vực do Quân đội quản lý; Phối hợp với lực lượng Cảnh vệ thuộc Bộ Công an và các lực lượng liên quan để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ do Quân đội đảm nhiệm.
Cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ có nghĩa vụ, trách nhiệm: Tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ; Tuyệt đối giữ bí mật về công tác cảnh vệ, thực hiện nghiêm biện pháp cảnh vệ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Thường xuyên học tập nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện thể lực để hoàn thành nhiệm vụ; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về quyết định của mình khi thực hiện công tác cảnh vệ.
- Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ có quyền hạn sau đây: Quyết định áp dụng, sử dụng biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; Yêu cầu đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến công tác cảnh vệ và phối hợp, hỗ trợ lực lượng Cảnh vệ khi cần thiết; Huy động người, phương tiện theo quy định tại Điều 22 của Luật; Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện giao thông hoặc hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định hoạt động này có thể gây nguy hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ; Đề nghị tạm hoãn hoặc thay đổi chương trình làm việc, hoạt động của đối tượng cảnh vệ khi có căn cứ cho rằng hoạt động đó có thể gây nguy hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ; Từ chối thực hiện yêu cầu không thuộc biện pháp và chế độ cảnh vệ theo quy định của pháp luật về cảnh vệ; Tạm cấm đường xung quanh khu vực trọng yếu, khu vực diễn ra sự kiện đặc biệt quan trọng quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 10 của Luật; xung quanh nơi ở và địa điểm hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách quốc tế trong trường hợp cần thiết; Thực hiện quyền khác theo quy định của Luật An ninh quốc gia.
Cục trưởng Cục Bảo vệ an ninh Quân đội có các quyền hạn nêu trên trừ quyền tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện giao thông hoặc hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định hoạt động này có thể gây nguy hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ và tạm cấm đường xung quanh khu vực trọng yếu, khu vực diễn ra sự kiện đặc biệt quan trọng theo quy định.
- Cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ có quyền hạn: Sử dụng biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; Được sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định của Luật này và Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Giấy bảo vệ đặc biệt, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ và tín hiệu của xe ưu tiên; Được mang theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật, công cụ hỗ trợ vào cảng hàng không và lên tàu bay; Kiểm tra, kiểm soát người, đồ vật mang theo, phương tiện ra, vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ; Tạm giữ người, đồ vật mang theo, phương tiện ra, vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ khi có căn cứ cho rằng người, đồ vật, phương tiện đó có nguy cơ gây nguy hại đến sự an toàn của đối tượng cảnh vệ; Huy động người, phương tiện theo quy định tại Điều 22 của Luật; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ, giúp đỡ để bảo đảm an toàn cho đối tượng cảnh vệ trong mọi tình huống.
Luật quy định việc quyết định áp dụng, sử dụng biện pháp quy định tại khoản 1, khoản 2 và điểm e khoản 3 Điều 20 phải bằng văn bản; trường hợp do yêu cầu cấp bách thì người thực hiện nhiệm vụ có thể quyết định bằng lời nói trực tiếp, nhưng ngay sau đó phải ra quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
- Về quy định nổ súng khi thi hành nhiệm vụ: Các trường hợp được nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ của lực lượng Cảnh vệ được quy định tại Nghị định số 128/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Cảnh vệ, nay các trường hợp được nổ súng được quy định cụ thể ngay trong Luật Cảnh vệ để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phù hợp với đặc thù của công tác cảnh vệ. Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc và các trường hợp nổ súng được quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Cảnh vệ quy định cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ trong khi thi hành nhiệm vụ được nổ súng trong các trường hợp cụ thể sau đây: Cảnh báo đối tượng đang đột nhập vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ; Nổ súng vào đối tượng đang đột nhập vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ, sau khi đã ra hiệu lệnh dừng lại và bắn chỉ thiên nhưng không hiệu quả; Vô hiệu hóa đối tượng đang có hành vi tấn công trực tiếp đối tượng cảnh vệ hoặc cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ đang thực hiện nhiệm vụ; Trường hợp nổ súng khác quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Về huy động người, phương tiện để thực hiện công tác cảnh vệ: Để bảo đảm đồng bộ với Luật Công an nhân dân, Luật trưng mua, trưng dụng tài sản, Luật Cảnh vệ quy định trong trường hợp cấp bách, để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ, cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ được huy động người, phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người đang sử dụng, điều khiển phương tiện đó, trừ trường hợp phương tiện thuộc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế và người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ huy động người, phương tiện có trách nhiệm hoàn trả phương tiện ngay sau khi trường hợp cấp bách chấm dứt. Nếu người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thiệt hại thì được hưởng chế độ, chính sách quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật; trường hợp phương tiện được huy động bị mất mát, hư hỏng thì cơ quan có cán bộ, chiến sĩ huy động phải đền bù theo quy định của pháp luật.
- Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ: Kế thừa nội dung của Pháp lệnh Cảnh vệ, Luật quy định cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật và được hưởng phụ cấp đặc thù, trợ cấp, hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
4. Chương IV. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác cảnh vệ
Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác cảnh vệ. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác cảnh vệ và có  các trách nhiệm sau đây: Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ; Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về cảnh vệ; Phổ biến, giáo dục pháp luật về cảnh vệ; Chỉ đạo các đơn vị thuộc lực lượng Công an nhân dân tổ chức thực hiện công tác cảnh vệ theo chức năng, nhiệm vụ được giao; hướng dẫn nghiệp vụ cảnh vệ, quy định về mẫu, quản lý, sử dụng Giấy bảo vệ đặc biệt cho lực lượng Cảnh vệ thuộc Bộ Công an và lực lượng Cảnh vệ thuộc Bộ Quốc phòng; Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác cảnh vệ thuộc Bộ Công an; tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học về công tác cảnh vệ; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện công tác cảnh vệ; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành và hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ thuộc Bộ Công an; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cảnh vệ; Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ: Phối hợp với cơ quan đại diện của nước ngoài tại Việt Nam, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài và các lực lượng chức năng của nước sở tại bảo vệ an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ trong thời gian hoạt động ở nước đó; Thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế với nước ngoài trong công tác cảnh vệ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm: Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ do Quân đội đảm nhiệm; Quản lý lực lượng Cảnh vệ và công tác cảnh vệ trong Quân đội; Phổ biến, giáo dục pháp luật về cảnh vệ trong Quân đội; Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác cảnh vệ thuộc Bộ Quốc phòng; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành và hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ thuộc Bộ Quốc phòng; Phối hợp với Bộ Công an trong công tác cảnh vệ.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý thực hiện các quy định của pháp luật về cảnh vệ; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về cảnh vệ tại cơ quan mình; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về công tác cảnh vệ.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cảnh vệ tại địa phương; chỉ đạo cơ quan trực thuộc phối hợp với lực lượng Cảnh vệ để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ hoạt động tại địa phương; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về cảnh vệ tại địa phương.
Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm: Thực hiện theo sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ công tác cảnh vệ và tổ chức thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh công tác cảnh vệ của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; tổ chức phối hợp với lực lượng Cảnh vệ và cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện công tác cảnh vệ trên địa bàn. Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ tại địa phương được sử dụng biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; tạm cấm đường xung quanh khu vực diễn ra sự kiện đặc biệt quan trọng, xung quanh nơi ở và địa điểm hoạt động của đối tượng cảnh vệ ở địa phương trong trường hợp cần thiết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm: Cung cấp kịp thời cho cơ quan, người có thẩm quyền thông tin, tài liệu liên quan đến công tác cảnh vệ; thực hiện yêu cầu của lực lượng Cảnh vệ để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đối tượng cảnh vệ; chấp hành quyết định, yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại Điều 20 của Luật này.
5. Khen thưởng và xử lý vi phạm
Luật quy định cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ có thành tích trong chiến đấu, công tác thì được xét tặng thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước và các hình thức khen thưởng khác theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ khi có thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, Luật cũng quy định cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại cho sức khỏe, tính mạng của người khác, tài sản hoặc lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi chống đối, cản trở hoạt động của lực lượng Cảnh vệ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ hoặc hành vi vi phạm khác thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật.
6. Điều khoản thi hành
Luật Cảnh vệ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018. Pháp lệnh Cảnh vệ số 25/2005/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Ngày 26 tháng 10 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1636/QĐ-TTg Ban hành kế hoạch triển khai thi hành luật cảnh vệ. Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên cũng đã ban hành Kế hoạch số 3564/KH-UBND ngày 04/12/2017 Triển khai thi hành Luật Cảnh vệ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Theo đó, Kế hoạch đã xác định các nội dung cần triển khai thực hiện như sau:
1. Về mục đích
- Tổ chức tốt việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những nội dung cơ bản của Luật Cảnh vệ đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân; làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sỹ làm công tác Cảnh vệ trên địa bàn tỉnh.
- Xác định trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, những người làm công tác Cảnh vệ và nhân dân để triển khai thực hiện Luật Cảnh vệ thống nhất, hiệu quả trên địa bàn tỉnh khi Luật Cảnh vệ có hiệu lực từ ngày 01/7/2018.
- Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cấp, các ngành, đoàn thể trong việc trao đổi, cung cấp thông tin và thực hiện có hiệu quả công tác Cảnh vệ trên địa bàn tỉnh.
2. Về yêu cầu
- Các Sở, ban ngành, địa phương được giao nhiệm vụ phải chủ động, tích cực triển khai thực hiện, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng công việc, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí; xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc triển khai thực hiện Luật Cảnh vệ.
- Bảo đảm sự phối hợp thường xuyên, hiệu quả giữa các Sở, Ban ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Cảnh vệ đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn tỉnh.
- Làm tốt công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện để bảo đảm tiến độ triển khai thực hiện Luật Cảnh vệ.
3. Về nội dung công việc 
a) Phổ biến pháp luật về cảnh vệ
- Tổ chức giới thiệu, tuyên truyền, phổ biến Luật Cảnh vệ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng các chuyên mục tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ bản của Luật Cảnh vệ và các văn bản có liên quan trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Điện Biên Phủ, các trang thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Thời gian thực hiện từ tháng 12/2017 và các năm tiếp theo.
- Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh tổ chức Hội nghị cấp tỉnh giới thiệu, phổ biến Luật Cảnh vệ và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cho đối tượng là đại diện lãnh đạo các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh; đại diện các Phòng, Ban thuộc các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh. Thời gian thực hiện từ quý IV năm 2018 và các năm tiếp theo.
- UBND các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh tổ chức Hội nghị giới thiệu, phổ biến Luật Cảnh vệ cho đối tượng là đại diện lãnh đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố; đại diện lãnh đạo các Phòng, Ban thuộc UBND nơi tổ chức Hội nghị. Thời gian thực hiện từ năm 2019 và các năm tiếp theo.
b) Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Cảnh vệ
Công an tỉnh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Cảnh vệ cho cán bộ, chiến sỹ công an làm công tác cảnh vệ; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cảnh vệ cho cán bộ, chiến sỹ làm công tác cảnh vệ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh. Thời gian thực hiện từ năm 2019 và các năm tiếp theo.
c) Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác liên quan đến công tác cảnh vệ để sửa đổi, bãi bỏ hoặc kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ những nội dung trái với quy định của Luật Cảnh vệ và các văn bản hướng dẫn thi hành
Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện. Thời hạn hoàn thành và gửi báo cáo về UBND tỉnh trước ngày 20/12/2017.
d) Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để thi hành Luật Cảnh vệ
Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban ngành, đoàn thể tỉnh ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành liên quan trong việc triển khai thực hiện Luật Cảnh vệ. Thời gian thực hiện trong năm 2019.
đ) Bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho công tác cảnh vệ
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác cảnh vệ. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh cân đối ngân sách và bố trí kinh phí thường xuyên cho công tác Cảnh vệ trên địa bàn tỉnh.
e) Kinh phí triển khai thi hành Luật Cảnh vệ
Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bố trí từ ngân sách Nhà nước trong dự toán chi thường xuyên hàng năm và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, các cơ quan được phân công chủ trì trong Kế hoạch có trách nhiệm lập dự toán kinh phí gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt./.

 
 
 
 
 
 

Tác giả: Phoòng Giáo dục Mường ChàGD&ĐT Mường Chà
Nguồn: thcssalong.pgdmuongcha.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip
Tài liệu mới